Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi là xét nghiệm được chỉ định nhiều nhất trong y học và cũng là xét nghiệm bị đọc lướt nhiều nhất. Phần lớn thông tin nằm ở những chỉ số ít được nhìn tới, và phần lớn sai sót nằm ở chỗ không biết máy đếm có thể nhầm ở đâu.
Nhóm chỉ số hồng cầu
- Số lượng hồng cầu.
- Hemoglobin — chỉ số then chốt để định nghĩa thiếu máu.
- Hematocrit.
- Thể tích trung bình hồng cầu.
- Lượng và nồng độ hemoglobin trung bình hồng cầu.
- Độ phân bố kích thước hồng cầu.
Thể tích trung bình hồng cầu là trục phân loại chính của thiếu máu và nên được nhìn ngay sau hemoglobin. Nhưng cần nhớ nó là giá trị trung bình: hai quần thể hồng cầu nhỏ và to cùng tồn tại có thể cho một giá trị trung bình bình thường.
Vai trò của RDW
- Phản ánh mức độ không đồng đều về kích thước.
- Tăng khi có hai quần thể hồng cầu cùng tồn tại.
- Hữu ích khi định hướng nguyên nhân thiếu máu hồng cầu nhỏ.
- Tăng sớm khi một thiếu hụt mới bắt đầu.
- Thay đổi khi điều trị bắt đầu có đáp ứng.
RDW là chỉ số hay bị bỏ qua nhất trong nhóm hồng cầu và lại có giá trị định hướng tốt. Nó cũng là lời nhắc rằng giá trị trung bình cần được đọc cùng với độ phân tán.
Nhóm chỉ số bạch cầu
- Tổng số bạch cầu.
- Công thức phân loại theo tỉ lệ.
- Con số tuyệt đối của từng dòng.
- Cảnh báo về tế bào bất thường nếu máy phát hiện.
Nguyên tắc cơ bản là luôn tính con số tuyệt đối. Một báo cáo ghi tỉ lệ lympho tăng trong bối cảnh bạch cầu hạt giảm mạnh có thể là lympho hoàn toàn bình thường về số tuyệt đối — vấn đề nằm ở dòng khác.
Nhóm chỉ số tiểu cầu
- Số lượng tiểu cầu.
- Thể tích tiểu cầu trung bình.
- Độ phân bố thể tích tiểu cầu.
- Cảnh báo về kết cụm nếu có.
Thể tích tiểu cầu trung bình có giá trị định hướng: tăng gợi ý quần thể tiểu cầu trẻ và do đó nghiêng về cơ chế tăng phá huỷ hơn là giảm sản xuất. Đây là một manh mối miễn phí đi kèm mọi công thức máu.
Hồng cầu lưới
- Không có sẵn trong mọi công thức máu, thường phải chỉ định riêng.
- Phản ánh hoạt động sinh hồng cầu tại thời điểm đo.
- Cần hiệu chỉnh theo mức độ thiếu máu khi diễn giải.
- Là bước phân nhánh sớm trong tiếp cận thiếu máu.
Việc thêm hồng cầu lưới vào chỉ định khi khảo sát một thiếu máu mới là thói quen có năng suất cao. Nó chia đôi chẩn đoán phân biệt ngay từ bước đầu với chi phí rất thấp.
Những tình huống máy đếm dễ nhầm
- Tiểu cầu kết cụm gây giảm tiểu cầu giả.
- Tiểu cầu rất lớn bị đếm nhầm sang dòng khác.
- Hồng cầu ngưng kết ảnh hưởng tới các chỉ số hồng cầu.
- Số bạch cầu rất cao ảnh hưởng tới phép đo hemoglobin.
- Hồng cầu có nhân bị tính vào bạch cầu ở một số hệ máy.
- Mẫu bị đông một phần hoặc bị pha loãng.
- Tăng lipid máu nặng ảnh hưởng tới phép đo quang.
Danh sách này là lý do vì sao nguyên tắc đối chiếu kết quả với lâm sàng vẫn giữ nguyên giá trị. Một kết quả bất thường mới xuất hiện mà không có bối cảnh phù hợp luôn đáng được kiểm chứng trước khi hành động.
Khi nào cần xem tiêu bản
- Máy đưa ra cảnh báo về tế bào bất thường.
- Kết quả không phù hợp với lâm sàng.
- Bất thường mới xuất hiện ở bất kỳ dòng nào.
- Giảm nhiều dòng cùng lúc.
- Nghi ngờ tan máu.
- Trước khi hành động dựa trên một giá trị bất thường quan trọng.
Máy đếm rất hiệu quả với mẫu bình thường và với việc phát hiện có gì đó khác thường. Nhưng việc mô tả bất thường đó là gì vẫn cần mắt người trên tiêu bản.
Yếu tố tiền phân tích
- Loại ống và chất chống đông.
- Tỉ lệ máu so với chất chống đông.
- Thời gian từ khi lấy mẫu tới khi chạy.
- Nhiệt độ bảo quản và vận chuyển.
- Kỹ thuật lấy máu, tránh vỡ hồng cầu.
Phần lớn kết quả bất thường không giải thích được lại bắt nguồn từ giai đoạn tiền phân tích chứ không từ máy. Đây là nơi cần rà soát đầu tiên khi một kết quả gây ngạc nhiên.
Đọc theo xu hướng
- So sánh với kết quả trước của cùng người bệnh.
- Một giá trị trong khoảng tham chiếu vẫn có thể là thay đổi đáng kể.
- Tốc độ thay đổi quan trọng ngang với giá trị tuyệt đối.
- Một kết quả đơn lẻ ít giá trị hơn một chuỗi.
Điểm thứ hai hay bị bỏ qua: hemoglobin giảm đáng kể so với nền của chính người bệnh vẫn có ý nghĩa dù con số còn nằm trong khoảng tham chiếu của dân số chung.
Khoảng tham chiếu
- Khác nhau giữa các phòng xét nghiệm.
- Thay đổi theo tuổi, giới và một số yếu tố khác.
- Khác biệt rõ ở trẻ em theo từng nhóm tuổi.
- Luôn đối chiếu với khoảng in trên chính phiếu kết quả.
Sử dụng khoảng tham chiếu của người lớn cho trẻ em là một sai sót có thật và có thể dẫn tới kết luận ngược. Đây là chỗ cần cẩn thận khi tra cứu từ nguồn tổng quát.
Ghi chú về phạm vi
Nội dung ở đây trình bày cách tiếp cận khái niệm phục vụ tra cứu. Việc chỉ định xét nghiệm, diễn giải kết quả và mọi quyết định lâm sàng thuộc về bác sĩ điều trị với đầy đủ dữ liệu của từng người bệnh.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao nên xem con số tuyệt đối thay vì tỉ lệ phần trăm của bạch cầu?
Vì tỉ lệ phần trăm phụ thuộc vào tổng số bạch cầu, nên một dòng có thể thay đổi tỉ lệ chỉ vì dòng khác thay đổi trong khi bản thân nó không đổi. Con số tuyệt đối phản ánh đúng lượng tế bào lưu hành của từng dòng.
RDW cho biết điều gì?
RDW phản ánh mức độ không đồng đều về kích thước của quần thể hồng cầu. Nó hữu ích khi định hướng nguyên nhân thiếu máu và khi nhận ra sự tồn tại của hai quần thể hồng cầu, chẳng hạn ở giai đoạn sớm của một thiếu hụt hoặc sau khi bắt đầu điều trị.
Khi nào cần xem tiêu bản dù máy đã cho kết quả?
Khi máy đưa ra cảnh báo, khi kết quả không phù hợp với lâm sàng, khi có bất thường mới xuất hiện, hoặc khi nghi ngờ tế bào bất thường. Máy đếm rất tốt trong việc xử lý số lượng lớn mẫu bình thường nhưng không thay được mắt người khi có bất thường hình thái.
Những tình huống nào làm máy đếm cho kết quả sai lệch?
Các tình huống đã biết gồm tiểu cầu kết cụm làm giảm tiểu cầu giả, hồng cầu ngưng kết ảnh hưởng tới chỉ số hồng cầu, số bạch cầu rất cao ảnh hưởng tới phép đo hemoglobin, và sự hiện diện của hồng cầu có nhân bị đếm nhầm. Khi kết quả bất thường không phù hợp lâm sàng, cần xem tiêu bản và cân nhắc lấy lại mẫu.